Trang chủ Blog Trang 108

Điều trị các bệnh mãn tính bằng phương pháp hoả trị liệu

Gần đây, có nhiều thông tin lùm xùm từ phương pháp hỏa trị liệu. Nhân dịp Viện vừa tổ chức thành công Hội thảo Điều trị các bệnh mãn tính bằng phương pháp hoả trị liệu, tôi xin chia sẽ một số ý kiến cá nhân về phương pháp độc đáo này.
Nguồn gốc
Đây là phương pháp lâu đời xuất từ dân tộc Miêu Trung Quốc, sau này được kế thừa ứng dụng trong cung đình. 2013 có dịp sang Trung Quốc tôi đã thấy sử dụng phương pháp này khá phổ biến, nhưng với những gì nhìn thấy và chưa trải nghiệm, lúc ấy tôi cũng không mấy thiện cảm vì có cảm giác hơi bạo lực và dường như không đủ cơ sở khoa học.
Từ khoảng tháng 02/2018, từ kết quả nghiệm thu đề tài khoa học cấp nhà nước, Bộ Y tế Việt Nam đã chính thức công nhận và cấp phép cho phương pháp này, trong đó bệnh viện Châm cứu Trung Ương là đơn vị được nhận nhiệm vụ kế thừa, nghiên cứu phát triển và chuyển giao cho các đơn vị YHCT.
TP.HCM chưa có nơi nào được Sở Y tế cho phép làm hỏa trị liệu. Riêng tại Viện có 53 Y, Bác sĩ, điều dưỡng được cấp chứng chỉ đào tạo hỏa trị liệu do Bệnh viện Châm cứu chuyển giao, tuy nhiên Viện chưa đưa vào điều trị mà hiện đang làm thí điểm theo quy định luật khám chữa bệnh. Sau khi thí điểm Viện sẽ báo cáo về Sở Y tế. Nói một cách khác spa, nơi làm thẩm mỹ không được phép làm hỏa trị liệu cho đến thời điểm này vì chưa được cấp phép của Sở y tế TPHCM.
Hiệu quả đến đâu?
Tất nhiên, một phương pháp được thông qua hội đồng cấp nhà nước và một bộ công nhận thì nó cũng phải có giá trị nhất định. Theo lý thuyết, đây là phương pháp đại nhiệt, tăng cường khả năng thông kinh hoạt lạc, là kết hợp ưu điểm của phương pháp giác hơi, cứu, đánh gió… nên đặc biệt hiệu quả trên các bệnh lý liên qua tới hàn chứng. Do tác dụng nhiệt nên cũng giúp cơ thể tăng cường tuần hoàn, tăng cường chuyển hoá nên hiện tại phác đồ hoả trị liệu ứng dụng trong một số bệnh như béo phì, đau liên quan đến hàn, liệt mặt do lạnh, và tác dụng thẩm mỹ
Như vậy rõ ràng, hoả trị liệu có chỉ định và chống chỉ định, chứ không điều trị bá bệnh như lời đồn mà phải áp dụng đúng thể thì mới đạt hiệu quả, chưa kể đến cần kỹ thuật bài bản.
Cảm nhận riêng của bản thân khi trực tiếp được chuyển giao và thực hành phương pháp này là y học cổ truyền quả là còn nhiều điều vi diệu. Giống như, trước đây khi bắt tay làm nhĩ châm tôi cũng không thực sự tin tưởng vào hiệu quả cho đến khi bệnh nhân kể cho tôi nghe về những điều đó. Còn quá sớm, để chúng tôi có thể đưa ra thêm bằng chứng khoa học về phương pháp mới kế thừa này, nhưng qua vài ca thử nghiêm trên một số bệnh lý liên quan tới hàn như viêm mũi xoang, liệt mặt… tôi có cái nhìn thiện cảm hơn, đồng thời có niềm tin về giá trị thực sự của phương pháp lưu truyền trong dân gian từ nghìn năm nay. Điều chúng ta cần và làm ngay là cung cấp thêm nhiều chứng cứ khoa học để nó có thể trở nên chính danh và không bị lạm dụng.

Ths. BSCKII Trần Minh Quang – Phó trưởng Phòng KHTH Viện Y Dược học dân tộc

Hội nghị giao ban công tác cụm VIII – năm 2018

Ngày 24/12/2018, tại hội trường Viện Y Dược học dân tộc TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức hội nghị giao ban công tác cụm VIII do hội Đông y Việt Nam năm 2018, đến tham dự có đại diện thường trực hội Đông Y Việt Nam, đại diện Thành uỷ TP. Hồ Chí Minh và đại diện thường trực hội Đông y các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hoà, tập thể thường vụ của hội Đông y 24 Quận, Huyện TP. Hồ Chí Minh.
Tại hội nghị giao ban lần này các đại biểu đã nghe báo cáo tham luận về một số thành quả đạt được liên quan đến tổng kết tóm tắt 10 năm thực hiện chỉ thị 24/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương về phát triển nền Đông y Việt Nam trong tình hình mới. Các tham luận hàm chứa những thông tin quan trọng, bổ ích, vừa giúp cho hội nghị nhận thức sâu hơn vai trò, nhiệm vụ của Hội với nhiều nội dung thiết thực, xoay quanh các vấn đề về hướng phát triển đông y trên địa bàn, thu hút sự quan tâm và tham gia thảo luận sôi nổi của các đại biểu trong việc nâng cao năng lực hoạt động của Hội.
Các đại biểu đã thảo luận, trao đổi nhiều kinh nghiệm quý, chia sẻ cách làm hay, đã cùng nhau phân tích, đánh giá những mặt còn hạn chế, đề xuất nhiều biện pháp thiết thực để giải quyết có hiệu quả những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị với Thường trực Hội Đông Y Việt Nam nhiều nội dung xác đáng nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động của Hội, những ý kiến và kinh nghiệm cùng với những đề xuất. kiến nghị tại Hội nghị lần này là những băn khoăn, trăn trở của các đại biểu về tình hình phát triển đông y tại địa phương, làm cách nào để đưa thế mạnh đông y Việt Nam phát triển mạnh trong khu vực, bên cạnh đó còn khuyến khích nhân rộng, bảo tồn và phát huy các bài thuốc hay trong Hội, nhằm giúp cho người dân biết đến hiệu quả của đông y trong công tác chữa bệnh, chăm lo sức khoẻ cho người dân.

Kết quả thi lớp lý thuyết lý luận cơ bản 107

Phòng Đào tạo – Nghiên cứu khoa học – Chỉ đạo tuyến – Viện Y dược học dân tộc TP. Hồ Chí Minh thông báo kết quả thi lớp lý thuyết lý luận cơ bản 107

Bài thuốc Toa căn bản – giải độc

Dùng như nước giải khát, uống trước, trong và sau bữa ăn. Người lớn uống mỗi lần 01 chai. Trẻ em từ 6 – 13 tuổi uống mỗi lần ½ chai. Trẻ em từ 2 – 5 tuổi uống mỗi lần 1/3 chai. Ngày uống 2 – 3 lần

Kết quả thi cuối khóa lớp châm cứu sơ cấp 114

Phòng Đào tạo – Nghiên cứu khoa học – Chỉ đạo tuyến – Viện Y dược học dân tộc TP. Hồ Chí Minh thông báo kết quả thi cuối khóa lớp châm cứu sơ cấp 114

Tập huấn kiến thức về nghiệp vụ an toàn lao động

Trong 02 ngày, từ ngày 17 -18/11/2018, Viện Y dược học dân tộc vừa tổ chức tập huấn kiến thức về nghiệp vụ an toàn lao động, cách vận hành máy móc thiết bị cho hơn 300 nhân viên đang làm việc tại Viện.
Với các lớp học kỹ năng an toàn lao động về nghiệp vụ kỹ thuật an toàn vận hành thiết bị áp lực, nghiệp vụ kỹ thuật an toàn vệ sinh viên, nghiệp vụ kỹ thuật an toàn lao động và nghiệp vụ kỹ thuật an toàn điện.
Cụ thể, nội dung tập huấn bao gồm chính sách pháp luật về An toàn vệ sinh lao động, kỹ năng phương pháp hoạt động của mạng lưới an toàn vệ sinh viên; Chuyên đề về quản lý rủi ro trong quá trình công tác và thảo luận rút kinh nghiệm và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động mạng lưới an toàn lao động.
Đây là một hoạt động thiết thực nhằm tuyệt đối không để xảy ra tai nạn lao động, sự cố gây thương tích cho người lao động,…. hoạt động này được Ban giám đốc Viện thường xuyên tổ chức thông qua tập huấn mạng lưới an toàn vệ sinh viên nâng cao nhận thức về an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ, tuyên truyền, nâng cao ý thức của người sử dụng lao động và người lao động trong việc chấp hành nội quy, quy định về An toàn lao động – vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ trong lao động sản xuất. Nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới An toàn vệ sinh viên, thi đua làm tốt công tác An toàn lao động – Vệ sinh lao động, góp phần cùng chuyên môn ngăn ngừa, hạn chế tối đa các yếu tố gây ra tai nạn lao động.

Kết thúc buổi học,  toàn bộ cán bộ, công nhân viên, người lao động của Viện được làm bài thu hoạch nhằm đánh giá kết quả,kiến thức nội dung của lớp học thông qua 02 ngày tập huấn.

Y học cổ truyền Việt Nam trước xu hướng hiện đại hóa: Bài 2 – Tích hợp đông tây y

Để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, y học cổ truyền Việt Nam cũng bắt đầu chuyển mình bằng nhiều phương thức khác nhau, trong đó nổi bật là sự phối kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại. Điều này đã mang lại những tín hiệu lạc quan.

Đông tây y kết hợp

Năm 2017, phát hiện mình mắc bệnh ung thư máu, chị Lê Thị Hạnh (31 tuổi, ngụ huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh) tìm đến Bệnh viện Truyền máu – Huyết học thành phố để điều trị bệnh. Chị được các bác sỹ chẩn đoán suy tủy, 3 dòng huyết cầu đều giảm mạnh. Tiến hành điều trị được một thời gian, sức khỏe của chị suy kiệt dần, thiếu máu nặng, lá lách to như trái bưởi. “Cách mấy ngày, tôi lại phải truyền máu một lần, cơ thể ngày càng suy nhược hơn, có người mách tôi nên đi theo đông y”, chị Hạnh cho hay.

Cấy chỉ cho bệnh nhân mắc bệnh cơ, xương, khớp – một phương pháp điều trị hiệu quả của y học cổ truyền tại Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh. 

Tìm đến Phòng khám bác sỹ Đỗ Hữu Định, nguyên Phó Viện trưởng Viện Y dược học dân tộc, chị Hạnh được bác sỹ kê đơn theo bài thuốc quy tỳ để bổ huyết kiện tỳ. Sau 6 tháng song hành điều trị ở Bệnh viện Truyền máu – Huyết học kết hợp sử dụng thuốc đông y, sức khỏe của chị bắt đầu cải thiện. Đến nay, đã hơn 1 năm điều trị đông – tây y kết hợp, các thông số bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu của chị Hạnh đã ổn định, lá lách trở về bình thường.

Theo bác sỹ Đỗ Hữu Định, việc kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại để điều trị bệnh, đặc biệt là các bệnh lý ung thư đã được các nước có nền y học cổ truyền phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản áp dụng từ 40 năm nay. Tại Việt Nam, việc phối hợp này được áp dụng muộn hơn nhưng cũng đã có những kết quả lạc quan.

“Đông y có những vị thuốc như tam lăng, nga truật có thể làm mềm các u cứng, giải độc, vì thế có thể sử dụng để kết hợp với tây y trong việc làm tiêu trừ các u lành tính và u ác tính”, Bác sỹ Định cho hay. Song song với các phương pháp hóa trị, xạ trị của tây y, bác sỹ Định cho rằng, bệnh nhân ung thư cần được phối hợp điều trị bằng đông y để mang lại hiệu quả cao nhất. 

Là một trong những đơn vị tiên phong kết hợp đông và tây y trong khám chữa bệnh những năm gần đây, Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh đã điều trị hiệu quả nhiều loại bệnh như ung thư, cơ xương khớp, thần kinh… Theo Phó Viện trưởng Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh – Tiến sỹ, bác sỹ Trương Thị Ngọc Lan, hầu hết tất cả các bệnh nhân khi đến khám chữa bệnh tại Viện Y dược học cổ truyền đầu tiên sẽ được chẩn đoán theo tây y bằng các thiết bị y học hiện đại như X-quang, siêu âm, thử máu… để xác định bệnh. Sau đó, một số bệnh sẽ được điều trị đơn thuần bằng y học cổ truyền, một số bệnh sẽ được dùng phác đồ đông tây y phối hợp. Ví dụ một bệnh nhân mắc bệnh đau lưng kèm cao huyết áp, các bác sỹ sẽ kê đơn điều trị cao huyết áp bằng tây y, còn đau lưng sẽ điều trị hoàn toàn bằng y học cổ truyền.

“Cả đông y và tây y đều có sở trường riêng. Do đó kết hợp đông và tây y là sự kết hợp sở trường của từng lĩnh vực, điều này mang lại hiệu quả tích cực hơn trong điều trị bệnh”, Tiến sỹ, bác sỹ Trương Thị Ngọc Lan cho hay. Nhờ thế, số lượng người người bệnh tìm đến điều trị y học cổ truyền ngày một tăng thêm. Trung bình hiện nay mỗi ngày, Viện Y dược học dân tộc khám ngoại trú cho 500 – 600 lượt bệnh nhân, 350 giường bệnh nội trú của Viện luôn đạt công suất ở mức 90%.

Tuy nhiên, bác sỹ Trương Thị Ngọc Lan cho rằng, việc kết hợp đông – tây y vẫn chưa thật sự lớn mạnh, rất cần các chính sách tạo điều kiện để phát triển. Cùng với đó là sự thay đổi trong nhận thức của toàn ngành Y tế, đặc biệt là trong đội ngũ y bác sỹ. “Nếu như các bác sỹ tây y ủng hộ, hợp tác với chúng tôi, việc phối hợp đông và tây y sẽ hiệu quả hơn rất nhiều”, bác sỹ Trương Thị Ngọc Lan mong mỏi.

Chuyên môn hóa y học cổ truyền

Sau mỗi lần tiến hành xạ trị ung thư hạch tại Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh, ông Lâm Minh Tú (58 tuổi) ngụ Quận 11 lại tìm đến Khoa Nội Ung bướu, Viện Y dược học dân tộc để tiếp tục điều trị theo đông y. Tại đây, ông được các bác sỹ thực hiện châm cứu, xoa bóp, uống thuốc và các chế độ điều dưỡng khác nhằm giảm bớt đau đớn, nâng cao sức khỏe. Mỗi lần chuyển qua đông y, ông thường nằm viện 2-4 tuần sau đó quay trở lại điều trị bằng tây y. “Sau 2-4 tuần, tôi thấy mình khỏe hơn rất nhiều và sẵn sàng cho đợt hóa trị tiếp theo ở Bệnh viện Ung bướu”, ông Tú cho hay.

Đây chỉ là một trường hợp bệnh nhân đang điều trị tại Khoa Nội Ung bướu, Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh. Bên cạnh thế mạnh trong điều trị các bệnh lý cơ xương khớp, từ năm 2005, đơn vị này đã thành lập khoa Nội Ung bướu dành riêng cho những bệnh nhân mắc bệnh ung thư. Đây cũng là cơ sở y học cổ truyền đầu tiên trong cả nước có khoa điều trị ung thư. Đến nay, hàng trăm bệnh nhân ung thư đã được điều trị, chăm sóc giảm nhẹ.

Tiến sỹ, bác sỹ Trương Thị Ngọc Lan cho biết, bệnh nhân đến đây chủ yếu là những bệnh nhân ung thư đang điều trị theo phác đồ tây y. Thường sau mỗi đợt hóa trị, xạ trị, phẫu thuật, bệnh nhân sẽ cảm thấy khó chịu, thiếu máu trầm trọng, sức khỏe giảm sút. Do đó, Viện Y dược học dân tộc sẽ điều trị bằng thuốc nam, thuốc bắc nhằm đào thải bớt các độc tố tồn dư sau hóa trị, giúp giảm các triệu chứng khó chịu, phục hồi nhanh sức khỏe để bệnh nhân đủ sức tiếp tục cho những đợt hóa, xạ trị sau đó.

Ngoài ra, nhiều bệnh nhân ung thư phát hiện bệnh quá muộn hoặc đã rơi vào giai đoạn cuối cũng thường tìm đến y học cổ truyền để thực hiện việc chăm sóc giảm nhẹ, nâng cao chất lượng cuộc sống. Những bệnh nhân này được dùng các bài thuốc giảm đau, kết hợp truyền dịch, châm cứu, xoa bóp giúp giảm đi đau đớn của bệnh tật những năm tháng cuối đời.

Kết quả từ nghiên cứu của Viện Y dược học dân tộc, sau khi kết hợp các liệu pháp phối hợp, có đến 92,3% bệnh nhân ung thư cảm thấy hết mệt mỏi; 90% hết táo bón; 85% có cảm giác thèm ăn, bớt đắng miệng, ăn ngon hơn và mau tiêu; 87% ngủ tốt, giảm suy nhược thần kinh; 84% bớt cảm giác đau, đa số tăng cân…

Điều trị cho trẻ tự kỷ bằng phương pháp châm cứu, điện châm tại Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh. 

Cùng với điều trị ung thư, năm 2017, Viện Y dược học dân tộc cũng đưa vào điều trị cho trẻ tự kỷ bằng y học cổ truyền. Theo đó, các bác sỹ dùng phương pháp thủy châm, điện châm, cấy chỉ tác động vào các huyệt vị của trẻ tự kỷ. Việc tác động vào các huyệt vị bằng các phương pháp này nhằm thanh nhiệt, tỉnh thần, khai khiếu, bổ ích ngũ tạng, bổ dưỡng khí huyết giúp trẻ thông kinh hoạt lạc, cân bằng âm dương… Nguyên lý của đông y, một khi cơ thể cân bằng âm dương thì sức khỏe cũng sẽ tốt, mọi bệnh tật tự động bị đẩy lùi. Các bác sỹ của Viện Y dược học dân tộc còn mời các giáo viên ngữ âm trị liệu, các giáo viên giáo dục đặc biệt để can thiệp hành vi cho trẻ mắc chứng tự kỷ sau khi trị liệu bằng y học cổ truyền.

Nói về xu hướng đông tây y kết hợp và chuyên môn hóa trong điều trị y học cổ truyền, Tiến sỹ, Bác sỹ Trương Thị Ngọc Lan cho rằng đây là hướng đi đúng đắn, hợp lý trong bối cảnh hiện nay nhằm phát huy tối đa hiệu quả của y học cổ truyền. Từ đó nâng cao vị thế của y học cổ truyền trong việc khám chữa bệnh, nâng cao sức khỏe nhân dân.

Theo Đinh Hằng (TTXVN)

 

Y học cổ truyền Việt Nam trước xu hướng hiện đại hóa: Bài 1 – Phát triển chưa xứng tầm

Mặc dù có lịch sử phát triển hàng ngàn năm, trở thành nét văn hóa thân thuộc, gần gũi của người dân Việt Nam nhưng đến nay, nền y học cổ truyền của nước ta vẫn chưa phát triển xứng tầm với tiềm năng vốn có. Nguyên nhân được cho là vẫn còn “độ vênh” giữa chính sách và thực tế.

Chưa thu hút người bệnh

Thống kê của Cục Quản lý Y, dược cổ truyền, Bộ Y tế, tính đến năm 2017, cả nước có 63 bệnh viện y học cổ truyền, 92% các bệnh viện đa khoa có khoa y học cổ truyền, 85% trạm y tế tuyến xã có tổ chức khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền. Bên cạnh đó còn có hệ thống 18.900 phòng chẩn trị và trung tâm thừa kế đông y do tư nhân lập nên.

Tuy nhiên, trước sự phát triển ngày càng lớn mạnh của tây y, những thành tựu khoa học tiến bộ việc chữa bệnh cấp tính và các bệnh khó cho nhân dân đạt hiệu quả cao khiến cho hoạt động khám chữa bệnh đông y phần nào giảm sút. Hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh y học cổ truyền chưa thu hút được bệnh nhân. Cùng với đó là sự xuất hiện của một số cá nhân, đơn vị quảng cáo, giới thiệu các loại thực phẩm chức năng, thuốc gia truyền quá mức làm giảm đáng kể uy tín của y học cổ truyền.

Dù có lịch sử lâu đời, có hệ thống khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền khá dày đặc nhưng đến nay, chính sách đầu tư phát triển, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh y học cổ truyền vẫn chưa xứng tầm. Hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền vẫn chưa có sự đầu tư của Nhà nước về cơ sở vật chất, trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, điều trị bệnh phải mất thời gian lâu dài khiến cho người dân chưa có niềm tin vào y học cổ truyền. Bên cạnh đó, chính sách Bảo hiểm y tế như khống chế phối hợp thuốc, thời gian thực hiện các thủ thuật, thắt chặt thanh toán…đã phần nào làm hạn chế sự phổ biến của y học cổ truyền.

Thống kê của Cục Quản lý Y, dược cổ truyền, năm 2017, tỷ lệ lượt khám bệnh bằng y học cổ truyền hoặc kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại trên tổng số lượt khám chữa bệnh chung của cả nước chỉ đạt 4,1% ở tuyến trung ương, 11,7% ở tuyến tỉnh, 13,4% ở tuyến huyện và 28,5% ở tuyến xã. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nhìn nhận, y học cổ truyền Việt Nam phát triển còn rất khiêm tốn. Việc truyền thông cho người dân, cung cấp kiến thức cho người dân về y học cổ truyền, về “cái hay, cái được” của thuốc đông y còn kém.

Ngoài ra, một vấn đề khiến cho y học cổ truyển chưa thể phát triển mạnh đó là khan hiếm nguồn cung cấp dược liệu chất lượng cao. Trong khi Việt Nam được ưu đãi về thiên nhiên, điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng, khí hậu, có hơn 5.000 loài thực vật dùng trong phòng bệnh và chữa bệnh. Thế nhưng, số vùng chuyên canh cây dược liệu ở nước ta vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay với sản lượng rất khiêm tốn. Mới chỉ có một số địa phương quy hoạch và triển khai nuôi trồng dược liệu một số cây, con có hiệu quả chữa bệnh và có giá trị kinh tế như: diệp hạ châu, đinh lăng, ích mẫu, kim tiền thảo, sa nhân tím, sâm ngọc linh, trinh nữ hoàng cung…

Theo Cục Quản lý Y, dược cổ truyền, mỗi năm nước ta tiêu thụ khoảng 60.000 – 70.000 tấn dược liệu. Thế nhưng, sản xuất dược liệu trong nước chỉ mới chỉ đáp ứng chưa đến 10%, hơn 90% dược liệu, nguyên liệu phải nhập khẩu từ Trung Quốc. Đặc biệt, nhiều dược liệu được Trung Quốc thu mua nguyên liệu từ Việt Nam với giá rẻ, đưa về Trung Quốc chế biến, bào chế sau đó bán ngược sang Việt Nam với giá vô cùng đắt đỏ.

Tiến sỹ, bác sỹ Trương Thị Ngọc Lan, Phó Viện trưởng Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh dẫn chứng, long nhãn ở tỉnh Bến Tre được thương lái Trung Quốc thu mua với giá 50.000 đồng/kg. Tuy nhiên, sau đó, Trung Quốc bán lại sang Việt Nam dưới dạng dược liệu có giá hơn 200.000 đồng/kg. Hay mủ trôm của Việt Nam chỉ bán trên thị trường khoảng 200.000 – 250.000 đồng/kg nhưng sau khi được Trung Quốc thu mua, chế biến và quay trở lại Việt Nam với cái tên tuyết yến, giá đội lên gần 10 triệu đồng/kg.

“Đây thực sự là nỗi đau lớn của những người làm y học cổ truyền bởi không tận dụng được nguồn dược liệu trong nước mà phải nhập khẩu từ Trung Quốc. Đáng lo ngại là qua kiểm tra chất lượng dược liệu, thuốc y học cổ truyền đã phát hiện dược liệu có lẫn tạp chất, hàm lượng hoạt chất thấp, thậm chí còn bị trộn hóa chất, nhuộm phẩm màu… gây nguy hại cho người sử dụng”, Tiến sỹ, Bác sỹ Trương Thị Ngọc Lan chia sẻ.

Đau đầu bài toán nhân sự

“Thiếu bác sỹ, thiếu điều dưỡng, thiếu dược sỹ, đặc biệt là thiếu bác sỹ chuyên môn sâu là bài toán đau đầu của không chỉ Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh mà là tình trạng chung của các cơ sở khám chữa bệnh y học cổ truyền”, Tiến sỹ, bác sỹ Trương Thị Ngọc Lan nhận định. Theo bà Lan, các bệnh viện muốn có nhân sự chuyên môn sâu, cử người đi học 18 tháng ở bệnh viện tây y hoặc phải “dụ” nhân sự ở nơi khác về, nhưng không dễ “dụ” bởi đãi ngộ của y học cổ truyền quá thấp.

Không chỉ bệnh viện tuyến Trung ương, mà tất cả các bệnh viện y học cổ truyền hoặc bệnh viện đa khoa có khoa y học cổ truyền đều thiếu bác sỹ. Thống kê của Cục Quản lý Y, dược cổ truyền, năm 2013, tỷ lệ bác sỹ y học cổ truyền trong tổng số bác sỹ của Việt Nam là 7,94%. Đến năm 2017, tỷ lệ này giảm xuống còn 7,32%. Đặc biệt, tỷ lệ nhân lực y học cổ truyền có trình độ chuyên sâu năm 2017 chỉ đạt 5,69% so với nhân lực y tế nói chung.

Trong khi nhân sự của các bệnh viện thiếu thì các quy định về cấp giấy phép hành nghề cho lương y vẫn chưa theo sát thực tế. Theo Bác sỹ Lê Hùng, Chủ tịch Hội Đông y TP Hồ Chí Minh, hiện thành phố có đến 600 lương y chưa được cấp giấy phép hành nghề dù họ được đào tạo đàng hoàng. Nhiều lương y không có giấy phép hành nghề đã buộc phải đóng cửa phòng mạch, tìm kế mưu sinh mới. “Điều này vô cùng lãng phí, không tận dụng được đội ngũ lương y lành nghề để phát triển nền y học cổ truyền”, Bác sỹ Lê Hùng cho hay.

Chỉ ra nguyên nhân khiến cho nhân sự y học cổ truyền khan hiếm, Tiến sỹ, Bác sỹ Trương Thị Ngọc Lan cho rằng do những bất cập trong đào tạo và chính sách phát triển y học cổ truyền của Việt Nam. Hiện nay, trong các trường y, dù chuyên ngành đào tạo là bác sỹ y học cổ truyền nhưng nội dung đào tạo có đến 70% dung lượng học về tây y. Điều này khiến cho các bác sỹ y học cổ truyền thường có xu hướng “tây y hóa”. Một số người trung thành với đông y, trình độ chưa đủ “chín” bởi được đào tạo quá ngắn.

Y học cổ truyền Việt Nam trước xu hướng hiện đại hóa: Bài 2 – Tích hợp đông tây y 

Theo Đinh Hằng (TTXVN)

Đơn vị liên kết

thoi gian lam viec








BÀI MỚI