Trang chủ Blog Trang 173

Hướng dẫn điều trị và theo dõi bệnh xơ gan

Hình minh họa - nguồn Internet

Bệnh xơ gan là gì?

Xơ gan hay gọi chính xác hơn là chai gan, là giai đoạn sau của viêm gan mạn. Xơ gan là hậu quả của việc lá gan bị các tác nhân gây hại cho gan tấn côngtrong thời gian lâu dài dẫn đến tế bào gan bị hư hại, chết dần và tạo ra các mô sẹo, không phục hồi được làm cho gan chai cứng dần dần và không thực hiện được những chức năng bình thường của gan (suy gan).

Hình minh họa - nguồn Internet
Hình minh họa – nguồn Internet
Điều trị nguyên nhân:
  • Ngưng uống bia, rượu hoàn toàn. Việc ngừng uống rượu giúp cho người bệnh được ổn định lâu dài hơn.
  • Điều trị siêu vi B, C nếu xơ gan do nhiễm siêu vi B, C.
  • Nếu xơ gan tim, điều trị suy tim sẽ cải thiện được chức năng gan.
Điều trị triệu chứng:
  • Phù chân, báng bụng: nằm nghỉ tại giường sẽ giúp thận lọc tốt hơn, tiều nhiều hơn.
  • Hạn chế muối: không thêm nước tương, nước mắm hoặc rắc thêm muối vào thức ăn. Hạn chế thức ăn chế biến sẵn, thức ăn bán ngoài tiệm, thức ăn đóng hộp. không ăn các loại mắm, khô.
  • Dùng thuốc lợi tiểu: cần có ý kiến của bác sĩ để tránh làm giảm thể tích máu, rối loạn điện giải, suy thận, hôn mê. Mục tiêu giảm cân nặng 0,5kg/ngày ở người bệnh báng bụng không có phù chân và giảm 1kg/ngày ở người bệnh báng bụng và phù chân.
  • Truyền albumin.
  • Giảm triệu chứng ngứa bằng cholestyramine.
  • Ở người bệnh xơ gan ứ mật cần bổ sung các vitamine tan trong mỡ như A, D, E, K.
  • nếu người bệnh có ói ra máu hay đi cầu phân đen, đây là một cấp cứu đe dọa tính mạng cần nhập viện ngay để có can thiệp điều trị.
Phòng ngừa biến chứng xuất huyết tiêu hóa do giãn vỡ các tĩnh mạch thực quản:
  • Dùng thuốc chẹn beta (Propranolol, Nadalol) người bệnh phải dùng thuốc liên tục, nếu tự ngưng thuốc đột ngột biến chứng ói ra máu sẽ dễ xảy ra hơn.
  • Ngoài ra có thể nhập viện để làm nội soi can thiệp: chích xơ, cột thắt tĩnh mạch thực quản giãn. Liệu pháp này có thể thực hiện lặp lại nhiều lần.
CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG Ở NGƯỜI BỆNH XƠ GAN:
  • Hạn chế muối: từ giảm lượng Natri đến ngưng hoàn toàn Natri đưa vào bằng đường ăn uống.
  • Nước uống cần khoảng 1 – 1,5 lít/ngày.
  • Chất béo: cử ăn da, mỡ động vật, phủ tạng động vật, súp xương. Thay mỡ động vật bằng dầu hoặc bơ thực vật.
  • Chất đạm: cần hạn chế đạm động vật mà nên dùng đạm thực vật như đậu nành, đậu hũ sẽ dễ tiêu hóa hơn. Khi có suy gan hoặc lơ mơ, hôn mê thì cần phải ngưng đạm hoàn toàn.
  • Tránh ăn cá có nhiều xương và các loại thức ăn cứng khó tiêu khi người bệnh vừa mới qua cấp cứu xuất huyết tiêu hóa, tốt hơn hết là người bệnh nên ăn chế độ ăn loãng, dễ tiêu.
  • Chất bột đường: cần được cung cấp đầu đủ để bảm đảm năng lượng cần thiết và tránh những cơn hạ đường huyết do giảm khả năng dự trữ glycogen.
  • -Rau và trái cây tươi là nguồn cung cấp vitamin và khoáng chất cần thiết. Ăn nhiều rau còn giúp tránh táo bón, người xơ gan không nên để bị táo bón vì sẽ làm ứ đọng chất ure và dễ dẫn đến hôn mê.
  • Ngoài ra, yaourt, chất men lactobacillus acidophilus còn có thể làm hóa giải NH3 trong phân làm giảm yếu tố thúc đẩy hôn mê gan.
  • Hạn chế các chất kích thích, thức ăn chua, cay vì người bệnh xơ gan thường hay bị viêm dạ dàykèm theo.
  • Nên chọn thức ăn hợp với khẩu vị, chia thành nhiều bữa ăn nhỏ trong ngày.
  • Ở người bệnh nhiễm siêu vi viêm gan C, nếu thấy lượng sắt hoặc ferritin trong máu tăng cao thì phải hạn chế thuốc bổ máu có chất sắt, không nên ăn các loại thực phẩm chứa nhiều chất sắt như: thịt bò, phủ tạng động vật (tim, gan,…), rau dền, sà lách xoong, rau muống, mè…
  • Nghỉ ngơi và tránh lao động mệt nhọc. người bệnh vẫn có thể làm các công việc bình thường hàng ngày nhưng đừng gắng sức.

(BS CKII Lê Văn Hải – Trưởng Khoa Khám Bệnh Viện Y Dược Học Dân Tộc)

Y học cổ truyền góp phần vào điều trị chứng mất ngủ

Ảnh hinh họa

Không có gì tệ hơn khi ai đó bị mất ngủ. Mất ngủ còn gọi là rối loạn giấc ngủ; dù khó đi vào giấc ngủ, không duy trì đủ tình trạng ngủ hay thức dậy quá sớm đều ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, đặc biệt xảy ra trên những người trong độ tuổi lao động. Khi mất ngủ, cơ thể không có thời gian bù đắp lại năng lượng mất đi trong ngày làm việc trước đó. Trung bình một người lớn ngủ từ 4 đến 8 giờ, nhưng đánh giá giấc ngủ không chỉ dựa vào số giờ ngủ mà còn tuỳ thuộc vào chất lượng giấc ngủ, tức là cảm giác thoải mái và đủ sức để phục vụ cho một ngày làm việc tiếp theo. Nếu một người dù ngủ được 8 giờ một đêm nhưng sáng hôm sau vẫn có cảm giác mệt mỏi, uễ oãi thì coi như giấc ngủ chưa đạt chất lượng. Ngược lại, dù ngủ chỉ 5 giờ nhưng cơ thể sảng khoái và vui vẻ để bắt đầu một ngày làm việc mới thì giấc ngủ đạt yêu cầu.

Ảnh hinh họa
Ảnh hinh họa

1. Các yếu tố thuận lợi và nguyên nhân của mất ngủ

1.1. Yếu tố bên ngoài:

–         Căng thẳng trong công việc hoặc tài chính

–         Xung đột với người chung quanh

–         Sự cố lớn trong cuộc sống

–         Mệt mỏi do công việc hoặc làm việc theo ca – kíp

1.2. Bệnh nội khoa:

–         Tim mạch: mạch vành, loạn nhịp tim, suy tim

–         Hô hấp: hen phế quản, ngưng thở khi ngủ

–         Đau mạn tính

–         Bệnh nội tiết: đái tháo đường, cường giáp

–         Tiêu hoá: viêm – loét dạ dày, viêm dạ dày – thực quản trào ngược

–         Thần kinh: Parkinson, động kinh

–         Phụ nữ đang mang thai

1.3. Tâm thần kinh:

–         Rối loạn tính cách: trầm cảm, loạn thần

–         Rối loạn lo âu

–         Hội chứng cai thuốc, rượu

1.4. Mất ngủ do sử dụng một số thuốc:

–         Thuốc chống động kinh

–         Thuốc hạ huyết áp nhóm ức chế giao cảm

–         Thuốc lợi tiểu

–         Nhóm steroid, thuốc hưng phấn thần kinh.

Tuỳ theo mức độ và nguyên nhân của mất ngủ, Y học hiện đại có nhiều thế hệ thuốc từ thuốc kháng histamine tại thụ thể H 1 thế hệ 1 đến thuốc an thần gây ngủ để điều trị chứng mất ngủ tuy nhiên nếu sử dụng kéo dài thường có những phản ứng ngoại ý nhất định.

2. Y học cổ truyền với các biện pháp không dùng thuốc cũng như dùng thuốc có thể giúp cải thiện đáng kể giấc ngủ:

2.1. Không dùng thuốc:

–         Tâp thói quen nên ngủ và thức vào một thời điểm nhất định trong đêm,

–         Không nên ngủ vào buổi trưa quá dài (trung bình 15 – 30 phút là đủ),

–         Phòng ngủ cần yên tĩnh, thoáng (không quá nhiều vật, sách vỡ…), ánh sáng phù hợp (không quá sáng),

–         Không ăn quá no hoặc ngược lại bị quá đói sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ,

–         Tránh uống trà, cà phê đậm đặc vài giờ trước khi ngủ,

–         Tập thở sâu, đặc biệt thở cơ hoành (thở vào sâu, bụng di động theo nhịp thở trong khi hạn chế cử động của lồng ngực: vai không nhấc lên, cơ cổ, cơ ngực không co kéo mạnh).

–         Tập thư giãn: nằm thả lỏng các cơ từ mặt, cổ, ngực, bụng, tay, chân; không nghĩ ngợi miên man; tập trung tư tưởng theo dõi vào động tác hít vào thở ra đều đặn; tự nhủ rằng tay chân và toàn thân tôi có cảm giác nặng ấm. Thực hiện tốt thư giãn, giấc ngủ sẽ dễ dàng có chất lượng.

–         Day ấn một số huyệt có tác dụng dịu sự căng thẳng và an thần như: Huyệt Ấn đường (điểm giữa hai đầu trong chân mày), huyệt An miên (điểm sau trái tai khoảng 1,5 cm), huyệt Nội quan (điểm giữa 2 gân cơ trên nếp gấp cổ tay khoảng 3 cm), huyệt Tam âm giao (điểm trên chỗ cao nhất của mắt cá trong khoảng 4 cm, sát bờ sau xương chày), huyệt Túc tam lý (dưới góc dưới xương bánh chè khoảng 4 cm, phía ngoài bờ trước xương chày).

–         Xoa nóng bàn chân cả mặt lòng và mặt lưng, hoặc ngâm bàn chân trong nước ấm khoảng 50 0c.

2.2. Sử dụng thuốc: một số dược liệu dễ tìm quanh ta có tác dụng trấn tĩnh giúp dễ ngủ:

–         Rau nhút: Rau nhút non được sử dụng nấu canh với cá, thịt, tôm

–         Củ sen: là phần cây nằm dưới bùn có tác dụng an thần, bổ dưỡng

–         Hạt sen: có nhiều chất dinh dưỡng và an thần kinh

–         Tâm sen: phần lõi màu xanh nằm giữa Hạt sen, có tác dụng chống hồi hộp, mất ngủ.

–         Củ súng: có lợi cho người suy nhược tâm – thần kinh, rối loạn giấc ngủ.

–         Nhãn nhục: nấu nước hoặc kết hợp Hạt sen, Táo nấu chè giúp dẽ ngủ.

–         Lá vong nem: có tác dụng an thần mạnh khi hấp vào nồi cơm hoặc luộc hay nấu chung với vài vị thuốc khác.

–         Lạc tiên: bộ phận dùng là Lá và Thân, có tác dụng an thần kinh, giúp tăng chất lượng giấc ngủ.

–          Ăn hoặc uống nước ép quả Cà chua, Cà rốt, Quả Bơ, trái khóm, chuối… vì có chứa nhiều vitamin B2, B3, B6, C… giúp cơ thể tạo được chất Serotonin, một neurohormone giúp ngủ.

Tuy nhiên, nếu áp dụng các biện pháp trên vẫn chưa cải thiện được giấc ngủ. Chúng ta cần tìm hiểu đánh giá tinh trạng cụ thể của người bệnh, YHCT gọi là Biện chứng luận trị, nghĩa là tìm ra cơ quan quan nào của cơ thể hiện bất ổn, tổng trạng tốt hay suy nhược để chọn vị thuốc hoặc bài thuốc phù hợp.

Bs Trần Văn Năm (Viện YDHDT TP.HCM)

Danh y Hải Thượng Lãn Ông

Hải thượng lãn ông
Hải thượng lãn ông

Hải Thượng Lãn Ông tên hiệu là Lê Hữu Trác tên thường là Lê Hữu Chẩn, là một đại y tôn của nước ta.

 

Sinh ngày 12/11/1724 năm Giáp Thìn về cuối đời Hậu Lê, ở thôn Văn Xá, làng Lưu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương, (nay là thôn Thanh Xá, xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, Hải Hưng). Mất ngày rằm tháng Giêng năm Tân Hợi, niên hiệu Quang Trung thứ 4 (1791) tại xã Tình Diễm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Cha là Lê Hữu Mưu đỗ tiến sĩ, làm Thượng Thư đời Lê Dụ Tôn, mẹ quê ở Bàu Thượng, làng Tình Diễm, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Hồi nhỏ theo cha đi học ở Thăng Long, năm 1739 cha mất, lớn lên gặp thời loạn, vua Lê hư vị, Chúa Trịnh lộng quyền, các nơi đều nổi dậy chống đối, có phen Lãn ông cũng ra cầm quân dẹp loạn, nhưng vì chán ghét cuộc chém giết tương tàn ấy, nên nhân có tin người anh ở Hương Sơn mất, ông bèn viện cớ về quê nuôi mẹ. Nhân bị đau ốm, Lãn ông mới tìm đến vị Lương y Trần Độc ở núi Thành, xã Hương Cần, huyện Thanh Chương, Nghệ An để chữa bệnh. Trong thời gian ở đó hơn 2 năm, Lãn ông đã nghiên cứu các sách y học kinh điển nhất là bộ Phùng Thị Cẩm Nang  và cùng họ Trần bàn luận về y học.

Bấy giờ có Hải Quận Công biết Lãn Ông văn võ kim toàn muốn mời ra cầm quân lần nữa, nhưng vì chán ghét chiến tranh, không ham danh lợi Lãn Ông đã cương quyết chối từ, trở về Hương Sơn nghiên cứu y học và chữa bệnh.

Năm 1760, mẹ mất, lúc đó tuy mới 35 tuổi đã nổi tiếng là danh y, ngoài việc chữa bệnh, Hải Thượng Lãn Ông đã mở lớp dạy cho đồ đệ. Suốt hai mươi mấy năm lưu tâm nghiên cứu, đem hết tài năng và tinh thần tận tụy chữa bệnh và giảng dạy. Hải Thượng đã lĩnh hội được nguyên lý uyên thâm của Đông y, thu lượm bao kinh nghiệm phong phú về chẩn trị, đúc kết lại thành một hệ thống kết hợp chặt chẽ lý luận với thực tiễn lâm sàng trong một tác phẩm rất lớn và rất có giá trị là bộ Y Tông Tâm Lĩnh. Ngoài ra lại còn viết tập”Vệ Sinh Yếu Quyết” và một bản gọi “Nữ Công Thắng Lãm”.

Năm 1782, đời Lê Hiến Tông, Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 43, bấy giờ đã ngoài 60 tuổi Hải Thượng bị triệu về Kinh để chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán con Chúa Trịnh Sâm.

Ở triều đình, bị các ngự y ganh tị gièm pha, mãi sau Hải Thượng mới được phép chữa nên không có kết quả. Nhân ở kinh đô một năm ông tìm mọi cách để in bộ sách của mình nhưng không thành công, lại có ý tìm lại các vị danh y tại đó để trao đổi học thuật nhưng chỉ thu lượm được một số bài thuốc kinh nghiệm hoặc gia truyền. Hải Thượng đã kể lại cuộc hành trình này ở tập Thượng Kinh Ký Sự, một tài liệu văn học có giá trị phản ánh đời sống của xã hội Việt Nam hồi đó.

Lãn Ông trở về Hương Sơn tiếp tục nghiên cứu, chữa bệnh, giảng dạy và hoàn thành bộ Y Tông Tâm Lĩnh, bộ sách Đông y lớn nhất và quí nhất ở nước ta: gồm 63 cuốn (nay chỉ còn 55 cuốn) do Vũ Xuân Hiên thu thập lại và đem in năm 1866.

Nội dung bao gồm y lí, chẩn trị, phương dược, trình bày có hệ thống, kết hợp lý luận với thực tiễn, phân tích chứng minh rõ ràng, như bàn về Thủy Hỏa thì có cuốn Huyền Tẩn Phát Vi, bàn về khí huyết có cuốn Khôn Hóa Thái Chân, trị các bệnh ngoại cảm thì có Ngoại Cảm Thông Trị, biện biệt tạp chứng thì có Bách Bệnh Cơ Yếu, chẩn đoán thì có Y Gia Quan Miện, biện luận thì có Đạo Lưu Dư Vận, vận khí có Vận Khí Bí Điển … cho đến các loại phụ khoa (Phụ Đạo Xán Nhiên), nhi khoa (Ấu Ấu Tu Tri) đều viết một cách tinh thông, giầu kinh nghiệm.

Tuy chịu ảnh hưởng của y học Trung Hoa nhất là Phùng Thị nhưng Lãn Ông đã có óc sáng tạo vận dụng y lí hợp với hoàn cảnh khí hậu và thể chất của người Việt Nam và đã sử dụng thuốc Nam để chữa bệnh, như ở các cuốn Lĩnh Nam Bản Thảo, Bách Gia Trân Tàng và Hành Giản Trân Nhu. Nhận định về Lĩnh Nam không có thương hàn, Lãn Ông đã lập ra nhiều phương thang mới ghi  ở cuốn Ngoại Cảm Thông Trị. Đặc biệt trong 2 cuốn Dương Án và Âm Án, ghi lại những y án và phân tích về những bệnh đã chữa khỏi hoặc không chữa được. Cuốn Châu Ngọc Cách Ngôn để lại cho chúng ta những điều căn dặn rất bổ ích về chẩn đoán trị liệu và những sai lầm tai hại cần tránh.

Thân thế và sự nghiệp của Lãn Ông đã có một ảnh hưởng rất lớn đối với giới Đông y Việt Nam cả về mặt đạo đức và chuyên môn.

Bộ sách Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển, nội dung gồm:

1. Tập đầu: Có bài tựa, Phàm lệ mục lục và Y nghiệp phần chương nói về nghề y, thái độ tư cách, khái quát bộ sách và tập thơ Y Lí Thâu Nhàn.

2- Tập Nội Kinh Yếu Chỉ: nêu khái yếu về cuốn kinh điển Nội kinh.

3. Tập Y Gia Quan Miện:  Khái niệm về Âm dương, Ngũ hành, quẻ số, can chi, mạch yếu.

4. Tập Y Hải Cầu Nguyên: Soạn những lời thiết yếu của các tiên hiền, chú giải kỹ để làm rõ những điều huyền bí.

5. Tập Huyền Tẫn Phát Vi:  Nói rõ công dụng mở đầu của ‘Tiên thiên’, máy Âm dương, khiếu Thủy Hỏa và cách phân biệt chứng trạng, dùng thuốc.

6- Tập Khôn Hóa Thái Chân: gồm có công dụng nuôi sống của ‘Hậu thiên’ nguồn gốc của khí huyết, cách luận bệnh xử phương.

7- Tập Đạo Lưu Dự Vận:  đem các ý nghĩ còn nghi hoặc, chưa rõ nghĩa trong các sách, cùng với những chỗ người xưa chưa nói đến để biện luận rõ ràng mà bổ sung vào những chỗ còn thiếu sót.

8. Tập Vận Khí Bí Điển:  chọn lấy bài phú Chiêm Vận, phong giác của họ Vương và thiên Ngọc Lịch, ngũ hành, chia ra cách xem mây, xem gió, chủ vận, khách vận, chủ khí, khách khí, lập thành từng cách nghiệm đoán.

9. Tập Dược Phẩm Vậng Yếu:  chọn lấy 150 vị thuốc thường dùng trong Bản thảo, chia làm 5 bộ để tiện tra khảo.

10- Tập Lĩnh Nam Bản Thảo:  soạn các vị thuốc cây cỏ ở Lĩnh Nam (bao gồm Việt Nam và miền Nam Trung quốc), chia thành môn loại, chú thích tính chất, cách chữa, cách thu hái…

11- Tập Ngoại Cảm Thông Trị bàn về nước Nam ta không có bệnh thương hàn, mắc bệnh ngoại tà, đều là bệnh cảm mạo, tác giả không theo hình chứng lục kinh của Thương hàn luận nhưng Lãn Ông đã sáng chế ra 3 phương giải Biểu, 6 phương hòa Lý để chữa tất cả các bệnh ngoại cảm.

12- Tập Bách Bệnh Cơ Yếu:  chọn lấy các bệnh, môn trong sách kinh điển, xét nguyên nhân, cơ chế bệnh, phân biệt chứng  trạng hư thực, tiên lượng cách chữa, xử phương, dụng dược.

13. Tập Y Trung Quan Miện: soạn những điều hay mà tác giả đã lĩnh hội được ý nghĩa sâu sắc, những điểm cốt yếu.

14. Tập Phụ Đạo Xán Nhiên” chọn lọc trong các sách Phụ khoa những vấn đề về kinh nguyệt, đới hạ, thai, sản… lấy những điểm thiết thực cốt yếu, bỏ chỗ rườm rà… đồng thời bổ sung thêm những ý kiến của tác giả.

15. Tập “Tọa Thảo Lương Mô”, tác giả thấy trong nhiều sách trước đó về Sản khoa viết rườm rà, được điều nọ, mất điều kia nên ông soạn, sắp xếp lại, bổ sung hoàn chỉnh hơn.

16. Tập Ấu Ấu Tu Tri:  tác giả thấy trong nhiều sách Nhi khoa trước đó viết rời rạc, không thống nhất nên tác giả đã soạn lại, xét nguyên nhân cơ chế bệnh sinh, phân biệt chứng trạng cách chữa, xử phương làm chỗ cốt yếu  và thêm phần tâm đắc.

17. Tập Mộng Trung Giác Đậu: trình bày đầy đủ các kiến thức về bệnh Đậu… và bổ sung thêm kinh nghiệm đặc sắc phong phú.

18. Tập Ma Chẩn Chuẩn Thằng: soạn các phương pháp và kinh nghiệm tâm đắc trong điều trị bệnh sởi.

19. Tập Tâm Đắc Thần Phương:  trong khi lâm lâm sàng, tác giả đã hết sức suy nghĩ chọn ra nhiều phương thuốc thần diệu trong Phùng Thị Cẩm Nang.

20. Tập “Hiệu Phỏng Tân Phương: trong khi lâm sàng tác giả đã hết sức suy nghĩ lập ra nhiều phương thuốc đáp ứng với tình thế khó khăn.

21. Tập Bách Gia Trân Tàng: tiếp thu bí phương của ông ngoại truyền lại cùng thu thập các phương thuốc quý, chữa được nhiều trường hợp khó.

22. Tập Hành Giản Trân Nhu: chọn lấy các bài thuốc có những vị thuốc Nam, thuốc Bắc thông thường, dễ kiếm, tiện dùng.

23. Tập Y Phương Hải Hội: tập hợp soạn các thang tễ, hoàn tễ trong các sách, rườm rà thì giảm đi, thiếu thì bổ sung thêm.

24. Tập Y Án, Dương Án: Tập hợp tâm đắc suy nghĩ về những trường hợp nguy nan mà chữa thành công.

25. Tập Y Án, Âm Án: tập hợp những bệnh án bệnh nặng, khó, tình thế tuyệt vọng dù cố hết sức mà không kết quả để rút kinh nghiệm.

26. Tập Truyền Tâm Bí Chỉ hoặc còn gọi là Châu Ngọc Cách Ngôn, biện luận rõ ràng đầy đủ những nghĩa lý sâu xa trong sách, những chỗ tinh hoa của y thuật.

27. Tập Vĩ. (cuối) là cuốn Thượng Kinh Ký Sự, thuật lại cuộc lên kinh thành chữa bệnh cho Chúa Trịnh. Chỉ với giá trị sử học, văn học của cuốn ký sự này đã làm cho sự nghiệp văn hóa của Hải Thượng Lãn ông nổi danh không kém gì sự nghiệp y học của tác giả. Về sau đă thu thập được nốt 2 cuốn là Nữ Công Thắng Lãm và Vệ Sinh Yếu Quyết.

28. Tập của Pho Sách Bách Khoa Thư về Đông y “Lãn ông tâm lĩnh” là 28 viên ngọc quý, 28 vị sao (nhị thập bát tú) của bầu trời Y học phương Đông.

(nguồn vatm.edu.vn)

Viện y dược học dân tộc – Khám bệnh, phát thuốc miễn phí và tặng quà cho bà con xã An Phước – Huyện Mang Thít – Tỉnh Vĩnh Long

Viện Y Dược Học Dân Tộc khám bệnh cho bà con

Ngày 16/8, Tỉnh Đoàn Vĩnh Long phối hợp với Bệnh viện Mắt, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Bệnh viện Từ Dũ và Viện Y Dược học Dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hành trình nhân ái “Vì sức khỏe cộng đồng”. Gần 100 thầy thuốc trẻ tham gia khám chữa bệnh cho 900 bệnh nhân tại 2 huyện Mang Thít và Trà Ôn.

Bệnh nhân ngồi chờ tới lượt khám.

Đoàn đã mổ mắt miễn phí cho 100 bệnh nhân (Mang Thít), khám nội khoa tổng quát và phát thuốc miễn phí cho 250 bệnh nhân (xã An Phước và Chánh An, Mang Thít), chăm sóc răng miệng, khám sản phụ khoa và khám nội khoa tổng quát, phát thuốc miễn phí cho 550 bệnh nhân (xã Tân Mỹ, Trà Ôn).

Dịp này, đoàn cũng dành tặng 200 phần quà cho các hộ nghèo, gia đình chính sách, tặng 3.000 quyển tập cho học sinh nghèo tại địa phương.

Đây là hoạt động tình nguyện trong Chiến dịch Kỳ nghỉ hồng năm 2014 nhằm phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ cùng với địa phương làm tốt công tác an sinh xã hội, đặc biệt là trong vấn đề chăm sóc sức khỏe nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.

 

Điều dưỡng đo huyết áp cho bệnh nhân .

IMG_32939363597942

IMG_32860542548441

Bác sĩ khám bệnh, kê toa thuốc .

Phát thuốc cho bệnh nhân.

Điều trị viêm gan bằng Đông y

Nghệ, cây chó đẻ, cúc gai, atisô có được dùng trong điều trị viêm gan.
Hiện nay, có rất nhiều bệnh có thể chữa trị bằng Đông y, Tây y hoặc Đông – Tây y kết hợp trong đó có bệnh viêm gan. Tuy nhiên sử dụng đông y như thế nào mới đúng và mang lại hiệu quả?
Gan là cơ quan nội tạng lớn nhất trong cơ thể (1,2 – 1,3 kg), có khả năng tự tái tạo rất lớn khi bị tổn thương. Tuy nhiên, khi bị gan bị tổn thương từ 70-80% sẽ dẫn đến viêm gan. Viêm gan do các tế bào gan bị phá huỷ, chết đi do nhiều nguyên nhân như viêm gan siêu vi (A, B, C, E…), uống nhiều bia rượu, hút thuốc lá, ô nhiễm môi trường hoặc ăn nhiều thức ăn độc hại.
Nhằm giúp cộng đồng hiểu rõ hơn về việc sử dụng Đông y trong điều trị bệnh viêm gan, Trung tâm Truyền thông và Giáo dục Sức khoẻ TP.HCM đã tổ chức buổi  sinh hoạt chuyên đề “Đông Y trong điều trị viêm gan” do Bác sĩ CKII Lê Văn Hải – Trưởng khoa Khám bệnh Viện Y Dược học Dân tộc TP.HCM hướng dẫn.
Các bài thuốc chữa viêm gan
Theo Đông y, điều trị bệnh lý viêm gan có nhiều phương pháp khác nhau nhưng cần đến khám bệnh tại các phòng khám đông y, bệnh viện y học cổ truyền có uy tín để được hướng dẫn đúng cách.
Trong phương pháp điều trị bằng Đông y, quan điểm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” luôn là phương châm hàng đầu. Bác sĩ Lê Văn Hải cho rằng: “Phải điều trị trước khi bệnh xuất hiện, đừng để đến khi bệnh có biểu hiện rõ ràng thì đã vào giai đoạn muộn rất khó điều trị thậm chí không thể cứu được nữa”.
Nghệ, cây chó đẻ, cúc gai, atisô có được dùng trong điều trị viêm gan.
Nghệ, cây chó đẻ, cúc gai, atisô có được dùng trong điều trị viêm gan.
Điều trị viêm gan dù bằng phương pháp Đông hay Tây y đều phải xác định rõ nguyên nhân gây bệnh, từ đó tuỳ vào từng giai đoạn bệnh mà ta có những bài thuốc khác nhau. Với viêm gan giai đoạn nhẹ và cấp tính, có thể sử dụng một số  cây thuốc nam như:
Atiso có tác dụng bảo vệ tế bào gan, tăng tiết mật, thông mật lợi tiểu, hạ cholesterol trong máu.
Cúc gai kết hợp cùng thành phần từ quả cây ngũ vị tử có tác dụng hạ men gan.
Diệp hạ châu (Cây chó đẻ răng cưa) đã được nghiên cứu ngoài tác dụng hạ men gan còn được sử dụng chữa bệnh gan nhiễm mỡ, điều trị viêm gan siêu vi B.
Nghệ có tác dụng bảo vệ tế bào gan, phòng ngừa ung thư tế bào gan.
Ngoài ra, nếu người bệnh viêm gan có biểu hiện vàng da và niêm mạc có thể dùng các vị thuốc như  nhân trần 20g, chi tử 12g, đại hoàng 8g sắc chung uống để điều trị.
Bác sĩ Lê Văn Hải cho biết, khi bệnh ở mức độ nặng hơn như viêm gan mạn tính do siêu vi, xơ gan thì cần phối hợp rất nhiều vị thuốc mới có hiệu quả điều trị. Lúc này không nên nghe theo kinh nghiệm dân gian tự ý sử dụng cây thuốc mà cần đến gặp bác sĩ chuyên khoa để được thăm khám, chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời.
Lưu ý khi sử dụng Đông – Tây y kết hợp
Trong điều trị thuốc Đông – Tây y kết hợp cần lưu ý đến sự tương tác giữa 2 loại thuốc này. Tuỳ loại thuốc mà khi kết hợp có những tương tác có lợi hoặc có hại cho cơ thể cần được lưu ý.
Khi sử dụng nhóm thuốc kháng sinh, kháng siêu vi kết hợp với nhóm thuốc Đông y có tác dụng thanh nhiệt giải độc sẽ giúp tăng tác dụng của nhưng loại thuốc trên. Lúc này có thể giảm bớt liều lượng thuốc kháng sinh, kháng siêu vi để ngăn ngừa những tác dụng phụ khi sử dụng thuốc.
Tuy nhiên, nếu sử dụng chung các loại thuốc chống ngưng tụ tiểu cầu , kháng đông (Thuốc chống đông máu) dùng trong điều trị tim mạch với các thuốc có tác dụng hoạt huyết (Tăng lưu thông máu ) của Đông y có thể gây xuất huyết, chảy máu. Ngoài ra dùng thuốc cầm máu sẽ làm giảm tác dụng của các loại thuốc phòng ngừa bệnh tim mạch có thể dẫn đến đột quỵ.
Bác sĩ Lê Văn Hải khuyến cáo: “Người bệnh cần được tư vấn sử dụng thuốc Đông – Tây y kết hợp để tránh đưa đến các trường hợp đáng tiếc hoặc làm bệnh tình diễn biến xấu đi”.
Ngoài ra, để việc điều trị có hiệu quả người bệnh cũng cần quan tâm đặc biệt tới vấn đề dinh dưỡng và ăn uống hằng ngày. Theo bác sĩ Hải, không nên ăn một loại thức ăn nào quá nhiều và quá lâu vì sẽ dẫn đến tình trạng mất cân đối dinh dưỡng trong cơ thể làm phát sinh bệnh tật.
Bác sĩ Lê Văn Hải cho biết, người bệnh cần ăn nhiều đạm, chất bột, ít chất béo, và tăng cường chất xơ cho cơ thể mỗi ngày. Không uống rượu bia trong khi điều trị viêm gan, tốt nhất nên bỏ hẳn để tránh các bệnh lý nặng hơn như xơ gan, ung thư gan.

Vào chùa Kỳ Quang học… mát-xa

Cứ hè tới, hàng chục người ở mọi miền lại tìm về ngôi chùa đó không phải để ăn chay, niệm Phật… mà là để học nghề mát-xa.

Nơi học là sảnh cầu nguyện của các Phật tử
Nơi học là sảnh cầu nguyện của các Phật tử

Lớp học mát-xa của chùa Kỳ Quang 2 (Quận Gò Vấp, TP HCM) chỉ tổ chức vào dịp hè, kéo dài trong 2,5 tháng.

Lịch học từ 8 - 10h sáng, chiều từ 14 - 16h
Lịch học từ 8 – 10h sáng, chiều từ 14 – 16h

Học viên không cần phải ghi chép, cũng không có giáo trình, chỉ học bằng tai, máy ghi âm, điện thoại,… bởi tất cả học viên đều là người khiếm thị.

Buổi chiều, các học viên học mát-xa, chia thành từng cặp để vừa tự học vừa thực hành
Buổi chiều, các học viên học mát-xa,
chia thành từng cặp để vừa tự học vừa thực hành
Buổi chiều, các học viên học mát-xa,
chia thành từng cặp để vừa tự học vừa thực hành

Đây là lớp học miễn phí, hướng nghiệp được chùa Kỳ Quang 2 kết hợp với Viện Y Dược học dân tộc TP HCM tổ chức.

Nghề mát-xa là 1 công việc thích hợp đối với người mù. Năm nay chùa nhận 70 người khiếm thị để dạy nghề.

Học viên đến từ nhiều vùng miền, đủ mọi lứa tuổi, có người đã ngoài 60 nhưng cũng có nhiều trẻ em.

Thầy Đoàn Diệp Trọng đến từ Viện y dược học dân tộc đang dạy phần mát-xa tay cho học viên
Thầy Đoàn Diệp Trọng đến từ Viện y dược học dân tộc
đang dạy phần mát-xa tay cho học viên
Thầy Đoàn Diệp Trọng đến từ Viện y dược học dân tộc
đang dạy phần mát-xa tay cho học viên

Sau thời gian học, các học viên sẽ thi kết thúc khóa, nếu đạt yêu cầu sẽ được Viện cấp chứng chỉ hành nghề. Thầy Võ Quang Hải (79 tuổi), chủ nhiệm lớp mát-xa trong suốt 12 khóa, chia sẻ:

‘Hầu hết những người khiếm thị tự tìm đến đây học, sau đó đều kiếm được việc làm ở các cơ sở mát-xa, bấm huyệt, y học cổ truyền với mức lương 2 – 3 triệu đồng/tháng.

Khóa này mới khai giảng nhưng vừa có 1 cơ sở sẵn sàng nhận người rồi’

(Nguồn zing.vn)

Niềm hi vọng của bệnh nhân xương thủy tinh – Cao cá sấu Hoa Cà

Từ đầu năm 2010 đến nay, Viện Y Dược học Dân tộc Tp. Hồ Chí Minh (Viện YDHDT) đã hợp tác với Công ty TNHH Cá sấu Hoa Cà nghiên cứu về tác dụng của các loại cao xương cá sấu với hệ xương con người để tìm ra một liệu pháp hỗ trợ điều trị bệnh xương thủy tinh, đem lại nguồn hi vọng lớn lao cho những bệnh nhân mắc căn bệnh hiểm nghèo này.

«…
Xương thủy tinh là một bệnh lí do tổn thương gen có chức năng tạo chất collagen trong cơ thể.
– Biểu hiện bệnh: xương dễ gãy, biến dạng khung xương, tầm vóc nhỏ, hạn chế hoặc không thể tự đi lại được.
Hiện nay, trên thế giới, xương thủy tinh được coi là căn bệnh nan y mà chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Trong khi bệnh nhân xương thủy tinh luôn gặp rất nhiều khó khăn trong việc đi lại, sinh hoạt do xương giòn, dễ gãy.

Tại Việt Nam, ông Tôn Thất Hưng, Giám đốc Công ty TNHH Cá sấu Hoa Cà, sau lần tình cờ đọc bài báo “Đôi chân của cô bé xương thủy tinh”, ông đã luôn trăn trở về căn bệnh này và đau đáu cho số phận của các bệnh nhân đang từng ngày, từng giờ phải chịu đựng sự đau đớn về tinh thần lẫn thể xác. Điều đó thôi thúc ông nghiên cứu tài liệu, đặc biệt là gặp gỡ, trao đổi với các bác sĩ chuyên khoa xương khớp để hiểu biết kĩ về bệnh xương thủy tinh. Và một ý tưởng đã được ông phát hiện ra là bệnh xương thủy tinh do thiếu collagen, mà collagen trong xương cá sấu thì có rất nhiều.

941da_em_be_mac_benh
Các chác nhỏ mắc bệnh xương thủy tinh đang được theo dõi và điều trị tại Công ty Cá sấu Hoa Cà
9a024_san_pham_cao_ca_sau1
Cao xương cá sấu được kết hợp với các vị thuốc làm thành những viên thuốc có nhiều mùi vị khác nhau.
22ff4_benh_vien_tri_xuong_thuy_tinh
Kiểm tra phác đồ điều trị bệnh xương thủy tinh trước khi mổ cho bệnh nhân.
5156a_benh_vien_tri_xuong_thuy_tinh1
Ca phẫu thuật chỉnh lại xương chân của một bệnh nhân bị bệnh xương thủy tinh sau khi đã được điều trị bằng cao xương cá sấu.
42905_bac_si_dai_hoc_y_duoc
Một bệnh nhân xương thủy tinh được điều trị tại Viện Y Dược học Dân tộc Tp. Hồ Chí Minh.
a94de_bac_si_dai_hoc_y_duoc1
Bác sĩ Trần Văn Năm, Viện phó Viện Y Dược học dân tộc Tp. Hồ Chí Minh, người đã cùng với ông Tôn Thất Hưng tìm ra phương pháp điều trị bệnh xương thủy tinh bằng chế phẩm cao xương cá sấu.

Liệu pháp 4T – hi vọng mới cho bệnh nhân xương thủy tinh

Các bệnh nhân xương thủy tinh đang được điều trị theo liệu pháp 4T của Viện Y Dược Học Dân Tộc TPHCM

Từ một cô bé không thể tự ngồi, trải qua 3 năm điều trị bằng liệu pháp 4T của Viện

Bệnh xương thủy tinh (xương bất toàn, Osteogenesis imperfecta) là một bệnh hiếm gặp do tổn thương gene chịu trách sản xuất một yếu tố quan trọng có trong các mô liên kết của cơ thể là collagen. Collagen có vai trò kết dính, tạo độ bền cho các bộ phận cơ thể như khung xương. Khi collagen bị thiếu sót về số lượng và chất lượng sẽ gây bệnh trong đó có bệnh xương thủy tinh, khiến cho xương dễ gãy dù với chấn động nhẹ.

Các bệnh nhân xương thủy tinh đang được điều trị theo liệu pháp 4T của Viện Y Dược Học Dân Tộc TPHCM
Các bệnh nhân xương thủy tinh đang được điều trị theo liệu pháp 4T của Viện Y Dược Học Dân Tộc TPHCM
BS Trần Văn Năm, Phó Viện trưởng Viện Y Dược Học Dân Tộc TPHCM cho biết: “Bệnh xương thủy tinh chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu, biện pháp điều trị gene là hướng điều trị triệt để trong tương lai. Hiện tại, Viện Y Dược Học Dân Tộc kết hợp với một công ty nuôi cá sấu hỗ trợ điều trị cho nhiều trường hợp bị bệnh xương thủy tinh và có hiệu quả bước đầu”.

Điển hình là em Lê Thị Thị Xuân Quyên 14 tuổi, đến từ Bến Tre. Từ lúc chào đời cho đến khi 11 tuổi, bệnh nhân trải qua 8 lần gãy xương, đau nhiều ở đùi phải, gây mất ngủ, không tự ngồi và chân phải cử động rất khó khăn.

Sau 3 năm trị liệu hỗ trợ bằng liệu pháp 4T: Tập luyện thể lực (bơi), Thực dưỡng (đủ chất dinh dưỡng), Tâm lý (động viên tinh thần), Thuốc (Crocobone; thuốc bổ Đông dược, cao cá sấu) và phẫu thuật chỉnh hình, hiện nay Xuân Quyên tự ngồi, bơi được thời gian dài, tăng cân, tinh thần vui tươi hơn trước. Quyên cũng đang tích cực tập đi bằng nạng và đi được 25m.
Bé Xuân Quyên năm 2010
Bé Xuân Quyên năm 2010
Sau 3 năm điều trị, Xuân Quyên đã đi được bằng nạng
Sau 3 năm điều trị, Xuân Quyên đã đi được bằng nạng

Từ kết quả đáng khích lệ này, mô hình điều trị xương thủy tinh của Viện đã đón nhận hơn 100 bệnh nhân (nội trú, ngoại trú) từ sơ sinh tới 20 tuổi, đến từ nhiều tỉnh thành trên cả nước.

Đây là kết quả bước đầu, BS. Trần Văn Năm hi vọng với mô hình điều trị hỗ trợ hiện nay giúp tăng chất lượng sống cho người bệnh và sẽ làm nền tảng cho quy trình điều trị các bệnh lý của hệ xương khớp khác như: loãng xương, thoái hóa khớp…

 

 

 

Gương thầy thuốc trẻ tiêu biểu năm 2013

Bác sĩ Vũ Thái Sơn – Y thuật là Nhân thuật
Bác sĩ Vũ Thái Sơn – Y thuật là Nhân thuật

Đến với ngành Y học cổ truyền (YHCT) xuất phát từ sự thích thú những bài thuốc chữa bệnh rất hay từ dân gian, từ đó anh Vũ Thái Sơn đã chọn YHCT (Viện Y Dược học dân tộc) làm hướng đi cho mình sau này. Anh kể: “Bản thân tôi từ nhỏ cũng đã được sử dụng những bài thuốc này thấy có hiệu quả tốt và hầu như rất ít tác dụng phụ. Nhưng để kiểm chứng hiệu quả thật sự của những bài thuốc cần phải có các phương tiện nghiên cưú của Y học hiện đại, nên tôi đã quyết định theo học nghành bác sĩ YHCT, khám bệnh và điều trị kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại”.

Tấm lòng blouse trắng

Nền YHCT của Việt Nam có truyền thống lâu đời với những thành tưụ đáng tự hào, các biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc có hiệu quả khá tốt đối với các bệnh lý mãn tính đặc biệt phù hợp với người lớn tuổi cần điều trị lâu dài vì ít gây ra các phản ứng phụ. Ngoài ra, thế mạnh của YHCT đó là phòng bệnh bằng các phương pháp ăn uống, tập luyện dưỡng sinh và thái độ tinh thần trong cuộc sống rất gần gũi với người dân nên có thể phát triển trên diện rộng. Trong quá trình công tác và nghiên cứu của mình, anh có sáng kiến về đề tài “Đánh giá tác dụng giảm đau của phương pháp châm tê Hoa Đà giáp tích trên Hội chứng đau thần kinh tọa”. Xuất phát từ thực tiễn khi số lượng người bị đau thần kinh toạ đến khám và điều trị tại Viện ngày càng nhiều, và có những trường hợp có chỉ định phẫu thuật hoặc điều trị nhiều phương pháp khác không giảm nên anh mới tiến hành nghiên cưu phương pháp này để đem lại hiệu quả tốt nhất cho bệnh nhân. Và đề tài được Hội đồng khoa học công nghệ tại Viện đánh giá loại giỏi.

Lợi ích mang lại cho bệnh nhân từ phương pháp này chính là thời gian giảm đau nhanh hơn, rút ngắn thời gian điều trị tiết kiệm chi phí cho bệnh nhân. Đây là phương pháp không dùng thuốc do đó bệnh nhân sẽ không cần dùng các nhóm thuốc giảm đau nên không bị tác dụng phụ của thuốc. Đồng thời hiệu quả giảm đau của phương pháp này kéo dài hơn các phương pháp châm kinh điển. Một số lời khuyên cho người bị đau thần kinh tọa là trong sinh hoạt hằng ngày không nên nằm võng, nằm nệm, nằm ghế bố nên nằm giuờng cứng để luôn giữa cột sống lưng không bị cong quá mức. Khi đứng ngồi luôn giữ lưng ở tư thế thẳng, khi xách vật nặng nên phân bố lực đều 2 bên. Nếu có điều kiện nên tập các động tác vùng cơ lưng, đi bơi hoặc đi bộ, tập dưỡng sinh, lưu ý là chỉ tập thể dục sau khi qua giai đoạn đau cấp.

Tuy cũng gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu đề tài như tài liệu tham khảo, kinh phí, thu thập bệnh nhân nghiên cứu,… nhưng vì đề tài này xuất phát từ nhu cầu thực tế, thiết thực trong công tác chăm sóc sức khỏe cuả người dân nên đã được sự giúp đỡ và hỗ trợ rất nhiều từ ban giám đốc của Viện.

Là một bác sĩ trẻ, điều anh quan tâm nhất và cần rèn luyện mỗi ngày chính là chữ Tâm trong bản thân mình vì Y thuật là “Nhân thuật”. Bất cứ làm việc gì cũng vậy, khi đặt chữ “Tâm” vào công việc thì sẽ hết lòng vì công việc và là động lực để chữ “Tài” có thể phát huy. Trong nghề Y cũng vậy, khi chúng ta yêu thương người bệnh như chính người thân của mình thì chúng ta mới có thể giúp họ vượt qua bệnh tật và vượt qua những cám dỗ xung quanh.

Thủ lĩnh áo xanh

Là Bí thư Đoàn thanh niên, ngoài việc khuyến khích các bạn Đoàn viên thanh niên tham gia các phong trào, anh còn phải tạo ra những sân chơi để các bạn có thể thể hiện tài năng cũng như tâm tư nguyện vọng để họ sống có ích cho gia đình và cộng đổng. Anh thường xuyên tổ chức các buổi khám bệnh từ thiện, tổ chức các chuyến vui chơi tham quan du lịch về nguồn, giao lưu học hỏi với các đơn vị bạn và các tấm gương điển hình. Đồng thời luôn theo sát các bạn đoàn viên để lắng nghe và giúp đỡ các bạn kịp thời. Trong năm qua, anh cũng có 1 số sáng kiến: khuyến khích các bạn Đoàn viên tham gia nghiên cứu khoa học bằng nhiều hình thức khen thưởng, thi thiết kế báo tường, thi tìm hiểu về lịch sử của Viện và của Đoàn kết hợp cùng ban Giám đốc Cấp uỷ nên đã tạo được sự gắn bó  cũng như sự hỗ trợ rất nhiều từ phi lãnh đaọ.

Ở trong mội trường Đoàn hội đã giúp anh thêm tự tin và nhanh nhạy hơn khi giải quyết các vấn đề, đồng thời trao dồi thêm bản lĩnh chính trị và các kỹ năng quản lý xắp xếp công việc. Sắp tới, anh vẫn mong muốn được tiếp tục gắn với Đoàn, phát huy và làm tốt vai trò cuả người bác sĩ YHCT và nghiên cưú khoa học  để đưa nên YHCT của Việt Nam ngày càng phát triển.

Chữa bệnh không chỉ bằng thuốc

Khám bệnh cho người bệnh tại khoa Nội II.
Khám bệnh cho người bệnh tại khoa Nội II.
Tôi đến  Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh vào buổi chiều, trời nắng nhẹ,  người bệnh  đông nhưng sạch sẽ và nề nếp. Khoa Nội II (hỗ trợ điều trị bệnh ung thư) nằm trên lầu hai, bước vào nơi đây mùi cây cỏ, hoa lá lan tỏa cả một không gian rộng lớn.  Thoạt trông không có vẻ  là nơi chăm sóc người bệnh  mà ấm cúng như một nhà khách.  Hơn 70 người bệnh nằm vừa vặn số lượng giường sẵn có. Phần lớn họ là người già, nghèo, neo đơn và có hoàn cảnh đặc biệt, mang trên mình một nỗi đau bệnh tật mà  y học đã bó tay, gần như không chữa được.
Những người bệnh gặp “phao cứu sinh”Khoa Nội II, có diện tích khá khiêm tốn, nằm ở một góc yên tĩnh, nhìn xuống khu vườn  tràn ngập mầu xanh  của cây lá, giúp chia cắt sự ồn ào, náo nhiệt của trục đường ra vào sân bay Tân Sơn Nhất. Một  không gian  riêng của những người cùng cảnh ngộ,  đều mắc bệnh  nan y,  họ chia sẻ nỗi đau, cảm thương nhau vì bệnh tật. Hình như không ai hỏi tên ai bao giờ, từng người bệnh và người nuôi bệnh lặng lẽ giúp đỡ nhau trong sinh hoạt, ăn uống và điều trị, nên ai cũng biết rõ bệnh tình của nhau.Cụ Hoàng Thị Mơ, năm nay đã 85 tuổi,  nhà  ngay cạnh viện, cụ sống cô độc không có chồng con,  cụ bị bệnh ung thư xương cách đây đã mười năm, bệnh viện trước đây cụ điều trị đã trả về với gia đình với lý do bệnh hiểm nghèo, tuổi già. Người nhà đưa cụ Mơ vào đây điều trị. Cụ cho biết: Trước đây, tôi mất ngủ triền miên, người chỉ có 30 kg, nay được 32 kg,  ngày ngủ được năm, sáu tiếng rồi. Tôi nằm đây sáng có  thuốc uống, có cơm ăn, có bác sĩ động viên, có y tá bóp chân cho tôi nữa. Mặc dù khả năng kinh tế của tôi có thể chi trả  những nơi viện phí cao hơn, nhưng tôi chỉ thích nằm ở đây thôi, hình như là tôi hợp đất ở đây cô ạ. Người nhà cụ bộc bạch: Trước khi  đưa vào đây, cụ rất yếu, không đi lại được, không ăn ngủ được, người sút cân, thể trạng suy kiệt trầm trọng. Không ngờ  cụ lại khỏe lên nhờ chữa bệnh bằng đông y, bằng tinh thần thế này. Mặc dù cụ là người bệnh  hiếm hoi sử dụng dịch vụ, mỗi ngày chi phí cho giường nằm của cụ khoảng  50 nghìn đồng, bệnh đã tạm ổn, điều trị đã lâu, để tránh tốn kém,  bác sĩ khuyên cụ về  nhưng cụ nhất quyết không chịu.

Người bệnh Huỳnh Văn Kháng, 60 tuổi, quê Quảng Ngãi, ông bị ung thư dạ dày di căn, ông tâm sự: Trước khi phát bệnh, tôi thấy người rất mệt, sút gần chục kg, bụng chỉ hơi đau, khi tôi đi kiểm tra thì phát hiện mình bị ung thư  dạ dày đã di căn vào gan, phổi, Bệnh viện U Bướu mổ cắt bỏ phần có khối u, vì di căn vào gan, phổi nên  các bác sĩ khuyên ông về điều trị tại nhà và uống thuốc theo đơn.  Không   bó tay nhìn  bố chết dần, chết mòn, cô con gái lớn của ông đã tìm hiểu và khuyên bố điều trị theo đông y, “còn nước còn tát”. Lúc đầu, ông cũng bi quan không tin tưởng,  nhưng nhìn những giọt nước mắt của vợ con, ông không đành lòng, nên quay trở lại  thành phố chữa bệnh.  Sau khi điều trị được tám tháng, những triệu chứng khó chiụ trước đây như nôn nao, mặt mày xây xẩm, đau buốt đã thuyên giảm. Hiện tại, ông khỏe mạnh bình thường và đã phụ giúp gia đình các công việc nhẹ nhàng.

Một trường hợp rất lạ lùng mà hiện nay giới y học đang nghiên cứu đó là chị Hoàng Thị Bích Ngọc, ở quận Tân Bình,  chị là người bệnh  ngoại trú, cách đây mười năm khi chị mới 20 tuổi, chị  bị u đại bào ở  xương đùi phải, sau khi ghép xương một năm,  bệnh tái phát nhanh, người nóng sốt, suy kiệt, đầu gối sưng to, không đi lại được. Bệnh viện hồi đó chị điều trị nói rằng: Nếu không cưa ngang đùi, chỉ sống được khoảng ba tháng, nếu cưa  thì bệnh vẫn có thể tiến triển. Lúc đó, chị mới 20 tuổi, là con gái, nghĩ cảnh cưa chân để kéo dài cuộc sống chị vô cùng hãi hùng, chị bộc bạch: Hồi đó, tôi nghĩ mình sẽ chết, đằng nào cũng chết, nên tôi muốn lành lặn đôi chân. Tình cờ có người bà con chỉ cho tôi đến khoa Nội II. Tôi đến điều trị trong tâm trạng hoài nghi  và bi quan chán nản,  người thầy thuốc đầu tiên tôi gặp là bác sĩ Quan Vân Hùng, ông tiếp tôi rất vui vẻ và thân tình, ông dành hẳn  một buổi sáng để tìm hiểu bệnh án, hỏi han và động viên tôi. Ông đưa tôi  đến gặp những người bệnh mà ông đang điều trị, phần lớn họ là những người cao tuổi, đều mắc bệnh hiểm nghèo.  Từ ngày đó đến nay,  tôi điều trị tại đây, bệnh đỡ dần, khối u trên chân phải dần nhẹ bớt, ăn được, ngủ được, sau ba tháng tôi tự đi lại được…, sau ba năm tôi lập gia đình. Ðến nay, tôi đã  sinh hai con, các cháu hoàn toàn khỏe mạnh, hằng ngày tôi vẫn đi làm tại cửa hàng tạp hóa, chăm sóc gia đình, tuy nhiên bệnh không khỏi hẳn, vẫn còn vôi hóa và hơi đau một chút khi thay đổi thời  tiết…

Ðiều trị theo phương pháp 4T

Trong tủ tài liệu của nguyên Trưởng khoa Nội II  bác sĩ Quan Vân Hùng (người nghiên cứu và đưa phương pháp 4T này vào ứng dụng trong thực tiễn. Phương pháp 4T là: Tâm lý – tinh thần liệu pháp: Tạo một tâm lý thoải mái, sống phù hợp với thiên nhiên và quy định đất trời, tạo một tinh thần bình an vui tươi, ít lo lắng, căng thẳng, hạn chế giận, buồn, sợ hãi. Thực phẩm (chế độ ăn): Phù hợp thiên nhiên, kiêng cữ một số thức ăn, nước uống có hại cho cơ thể, nên ăn một số thực phẩm chống ung thư và bồi dưỡng sức khỏe. Tập dưỡng sinh: Vận động tự nhiên làm gia tăng sức khỏe (đi bộ, thái cực quyền, hạn chế nằm, ngồi). Thuốc: Kết hợp đông-tây y cộng châm cứu, bấm huyệt.

Ông cho rằng: Bản thân cơ thể con người có một khả năng tự phục hồi rất kỳ diệu, dù cho bệnh nặng, dù cho suy kiệt vẫn tiềm tàng nhen nhóm những tia sáng và ông muốn vận dụng cao nhất các liệu pháp hỗ trợ để thổi bùng lên   ngọn lửa yếu ớt đó, mặc dù không khỏi hoàn toàn được bệnh, nhưng thuyên giảm hẳn các triệu chứng, kéo dài cuộc sống mà không đau đớn. Hơn nữa phương pháp này tận dụng được nguyên liệu sẵn có, tận dụng  tác dụng của cây cỏ chung quanh ta, vì thế không tốn kém, phù hợp  hoàn cảnh người bệnh. Hơn mười năm điều trị  cho người bệnh, ông đã hỗ trợ chữa trị cho hàng nghìn người bệnh  ung thư giai đoạn cuối, qua thống kê được cải thiện 80%  tình trạng bệnh và kéo dài tuổi thọ.

Liệu pháp này tuy không tiêu diệt được u nhưng ít ra cũng ngăn chặn sự tàn phá của u được một thời gian. Từ tác dụng bồi dưỡng hệ miễn dịch là chính, ngăn chặn phần nào sự phát triển của u, lại không có tác dụng phụ, tinh thần người bệnh   được cải thiện,  sức khỏe tăng tiến hơn, khối u bị ức chế một phần nên cũng bớt tàn phá cơ thể, bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối vẫn có thể cầm cự được một thời gian.

Bác sĩ Trần Tuấn Khanh, Trưởng khoa Nội II cho biết: Ðể bệnh ung thư không còn đáng sợ nữa, điều quan trọng nhất là biết cách phòng ngừa, bằng  cách thay đổi lối sống và chế độ ăn, biết cách phát hiện ung thư và điều trị một cách toàn diện, nếu giai đoạn cuối không thể phẫu hóa xạ thì cần biết rằng ngành y học cổ truyền có thể giúp kéo dài cuộc sống của người bệnh. Bài thuốc mà khoa Nội II hay sử dụng là: Dùng các vị thanh nhiệt phối hợp, có tác dụng  lên khối u, đồng thời có tác dụng lên các phủ tạng, hoặc có tác dụng điều hòa tạng phủ để ổn định các triệu chứng.

Trưởng phòng quản lý Y dược học cổ truyền Sở Y tế TP Hồ Chí Minh    Trần Hữu Vinh cho rằng: Cần thiết phải có sự phối kết hợp giữa các bệnh viện khối tây và đông y, cần có sự đầu tư và triển khai về mô hình chữa bệnh 4T trên cả nước. Sau khi phát hiện ra bệnh, điều trị bằng tây y, người bệnh đã trải qua nhiều đau đớn về thể xác và tinh thần, thay vì động viên về với gia đình, cần chuyển sang điều trị đông y theo phương pháp 4T để khôi phục sức khỏe và tạo cho họ một thói quen và lối sống lành mạnh nhằm ngăn cản sự phát triển của bệnh.

 

Đơn vị liên kết

thoi gian lam viec








BÀI MỚI